Mấy giọt nước mắt của Ngộ Không

Trong chuyên mục Tây Du Ký của Cổ Kim Thư Quán, hôm nay Tôn Ngộ Không không mở màn bằng một gậy đánh yêu, mà bằng mấy giọt nước mắt. Hắn đứng trước mặt sư phụ, hai mắt khẽ nheo lại, rồi nước mắt bỗng chảy xuống. Con khỉ từng đại náo thiên cung, từng vào lò Bát Quái, từng đánh đến mức thiên binh thiên tướng phải dè chừng, lúc ấy lại làm ra vẻ sầu não ngay giữa đường Tây hành. Đường Tăng vừa trông thấy đã hoảng. Ông nắm lấy tấm váy da hổ của đồ đệ, hỏi vì sao đang yên đang lành lại khóc, có phải phía trước thật sự có tai họa đến mức ngay cả Ngộ Không cũng muốn quay đầu hay chăng.

Mấy giọt nước mắt ấy là giả. Ngộ Không vừa được Nhật Trị Công Tào báo rằng Bình Đỉnh Sơn có yêu quái lợi hại, trong động Liên Hoa lại có bảo bối đáng ngại. Hắn không muốn nói thẳng với sư phụ. Hắn biết Đường Tăng dễ kinh sợ, lại biết Trư Bát Giới thường ngày lười việc, hay gièm pha mình. Thế là con khỉ nghĩ ra một cách rất khéo. Hắn giả vờ nao núng, khiến sư phụ tự trao quyền điều động các sư đệ, rồi đẩy Bát Giới đi tuần sơn. Một màn khóc ngắn ngủi đã làm lộ ra gần như toàn bộ căn bệnh trong quan hệ thầy trò lúc ấy: người có bản lĩnh chưa được tin trọn vẹn, người có danh phận lại phải dựa vào kẻ mình thường trách phạt, còn giữa các đồ đệ thì ân oán cũ vẫn chưa tan.

Nếu chỉ hỏi vì sao Đường Tăng hay làm khổ Tôn Ngộ Không, ta rất dễ chọn một câu trả lời vừa nhanh vừa hả dạ. Nhưng đọc nguyên văn chậm hơn một chút, câu chuyện trở nên khó hơn. Đường Tăng có thiên vị, có lúc hồ đồ, có khi nghi oan. Ngộ Không trung thành, dũng mãnh, nhiều lần cứu thầy, song cũng tự phụ, hiếu thắng và biết dùng mưu nhỏ để ép người khác đi theo ý mình. Hai người vừa cần nhau, vừa liên tục làm nhau tổn thương. Từ đó, chúng ta sẽ lần theo chính những chi tiết ấy, tách lời truyện khỏi lời bình đời sau, rồi thử nhìn xem vì sao một vị hòa thượng hiền lành lại thường nghiêm khắc với đồ đệ có công nhất của mình.

Muốn hiểu Bình Đỉnh Sơn, phải quay lại một bước rất gần. Ngay hồi trước, Đường Tăng vừa được Ngộ Không cứu khỏi kiếp nạn ở Bảo Tượng Quốc. Sau khi Khuê Mộc Lang bị thu phục, thân hổ của Đường Tăng trở lại hình người, ông nghe Sa Tăng kể đầu đuôi rồi cảm tạ Ngộ Không không dứt. Ông còn nói rằng nếu sớm đến Tây Thiên rồi trở về Đông Thổ tâu với Đường vương, công lao của Ngộ Không sẽ đứng đầu. Ngộ Không nghe vậy chỉ cười, xin thầy về sau bớt niệm lời chú khiến mình đau đớn. Hai câu đối đáp nghe rất ấm. Một bên nhận công, một bên xin bớt hình phạt. Tưởng như vết nứt ở Bạch Hổ Lĩnh đã khép.

Thế nhưng vết thương giữa người với người hiếm khi biến mất chỉ vì một câu cảm tạ. Nó có thể được che lại bằng ân nghĩa mới, nhưng cách nhìn cũ vẫn còn. Ngộ Không nhớ mình từng bị đuổi đi dù đã đánh đúng yêu quái. Đường Tăng cũng nhớ đồ đệ này từng cãi lời, từng đánh chết sinh linh ngay trước mắt mình, từng khiến ông không sao phân biệt nổi đâu là hàng yêu, đâu là sát sinh. Một người cảm thấy mình có công mà chịu oan. Một người cảm thấy mình mang trách nhiệm làm thầy nhưng liên tục bị đẩy vào tình thế không kiểm soát nổi. Sau Bảo Tượng Quốc, họ lại cùng lên đường, song cái gút ấy chưa được tháo bằng sự hiểu nhau.

Hồi ba mươi hai mở ra rất nhẹ. Tiết trời vào xuân, gió thổi liễu xanh, hoa nở, chim hót, thầy trò vừa đi vừa thưởng cảnh. Chính trong lúc đẹp đẽ như vậy, Đường Tăng nhìn thấy một ngọn núi trước mặt rồi sinh lo. Ngộ Không nhắc lại lời Bát Nhã Tâm Kinh về tâm không vướng ngại thì không còn sợ hãi, lại bảo chỉ cần có lão Tôn ở đây, trời có sập xuống cũng giữ cho thầy vô sự. Câu nói rất đúng chất Ngộ Không, vừa là an ủi, vừa có phần khoe sức.

Đường Tăng không đáp thẳng. Ông ghìm ngựa rồi đọc một bài thơ, nhắc chuyện năm xưa phụng chỉ rời Trường An, một lòng sang Tây Thiên bái Phật, đi qua hết núi này sông khác, cuối cùng hỏi một câu rất đời thường: đến bao giờ thân này mới được nhàn. Ngộ Không bật cười, bảo nếu công thành, muôn duyên đều dứt, các pháp đều không, khi ấy tự nhiên thân sẽ nhàn. Nguyên văn còn ghi Đường Tăng nghe xong chỉ đành vui mà quên lo.

Hai chữ “chỉ đành” rất đáng chú ý. Chúng không chứng minh rằng Đường Tăng đang mơ một chức vị lớn sau ngày về nước, càng chưa đủ để nói ông lấy kinh chỉ vì công danh. Trong bài kể nguồn thường có xu hướng đẩy ý này rất xa, thậm chí hình dung ông đang nôn nóng chờ một ngày vinh quy. Văn bản Tây Du Ký không cho ta đủ căn cứ để kết luận như vậy. Điều chắc hơn nằm ngay trong lời ông: ông nhớ mình “phụng chỉ” mà đi, nhớ đường còn xa, nhớ bao nhiêu gian nan chưa hết, và giữa cảnh xuân đẹp bỗng khởi một niệm mong thân được nghỉ.

Chính niệm ấy lại rất người. Một người gánh việc lớn lâu ngày vẫn có lúc mỏi. Một người phát nguyện tu hành vẫn có thể sinh lo khi trước mặt là núi cao. Tây Du Ký hấp dẫn ở chỗ không tạc Đường Tăng thành pho tượng đã hoàn thiện từ đầu. Ông đi Tây Thiên để cầu kinh, nhưng chính đường đi cũng đang sửa ông. Nếu ngay từ Trường An ông đã nhìn thấu sợ hãi, danh phận, thương ghét, thị phi, thì tám mươi mốt nạn chỉ còn là cuộc hộ tống một bậc giác ngộ qua địa lý, chẳng còn là con đường luyện tâm.

Nguồn kể có dẫn câu “phàm phu chấp trước danh văn lợi dưỡng, tư sinh chi cụ” rồi gọi đó là lời trong một bộ “Bồ Đề Tâm Kinh”. Cách dẫn ấy cần sửa. Câu này được ghi thuộc Bồ Đề Tâm Luận, nói đến việc người phàm bám vào tiếng tăm, lợi dưỡng và những phương tiện nuôi thân. Đưa câu ấy vào đây có thể giúp soi một lớp ý về sự vướng mắc, nhưng nó là một văn bản Phật học được đem đến để bình Tây Du Ký và chưa đủ làm chứng cứ rằng tác giả hồi truyện đã bí mật xác nhận Đường Tăng tham cầu danh lợi.

Sự phân biệt này rất quan trọng. Cổ thư thường cho phép người đời sau đọc thêm nhiều tầng. Song đọc thêm không đồng nghĩa với việc lấy lời bình thay cho nguyên tác. Đường Tăng nhớ mệnh vua, đó là dữ kiện trong truyện. Đường Tăng muốn sớm hoàn thành hành trình, có thể suy ra ở mức hợp lý. Còn nói ông nóng lòng chờ chức tước, chờ vinh hoa, ấy đã bước sang suy đoán. Một bài đọc có sức nặng phải biết mình đang đứng ở bậc nào.

Nếu đặt bạn vào vị trí Đường Tăng lúc ấy, trước mặt là một đồ đệ có thể lên trời xuống biển, nhiều lần cứu mạng mình nhưng cũng thường tự quyết và cãi lời, còn bên kia là Bát Giới yếu hơn nhưng luôn biết quỳ lạy, thưa gửi, nhận mình là đồ đệ, bạn sẽ dễ tin ai hơn trong những việc chưa thể tự mình kiểm chứng? Nếu buộc phải chọn một bên, xin để lại lựa chọn của bạn dưới phần bình luận. Câu hỏi này sẽ còn trở lại khi chúng ta nhìn cảnh Bát Giới nói dối và Ngộ Không buộc thầy phải tận mắt thấy sự dối trá ấy.

Đúng lúc lòng Đường Tăng còn vướng nỗi lo, một tiều phu từ xa lên tiếng cảnh báo. Phía trước là Bình Đỉnh Sơn rộng lớn, động Liên Hoa có hai yêu ma đang cầm chân dung thầy trò để tìm bắt, bên mình lại có nhiều bảo bối. Ngộ Không ban đầu vẫn cười cợt. Đến khi nhận ra tiều phu chính là Nhật Trị Công Tào biến hóa để báo tin, hắn mới nghiêm lại. Và chính đoạn độc thoại tiếp theo khiến hình tượng Ngộ Không trở nên thú vị hơn rất nhiều.

Vì sao thầy trò khó lòng tin trọn nhau

Hắn nghĩ rằng nếu kể hết cho sư phụ, lão hòa thượng sẽ sợ rồi khóc. Nếu giấu đi mà yêu quái thật sự lợi hại, để thầy bị bắt thì sau đó mình lại tốn công cứu. Thế nên tốt hơn hết là sai Bát Giới đi dò xét. Bát Giới đánh thắng thì công về Bát Giới, đánh thua mình sẽ cứu, lúc ấy càng dễ làm nổi bản lĩnh của lão Tôn. Nguyên văn còn để lộ ý “hiển bản sự, xuất danh”. Con khỉ vừa nói với thầy về “chư pháp giai không” xong, quay đi đã tính đến chuyện làm sao cho bản lĩnh của mình được thấy rõ.

Đây là một nét viết rất tinh. Tây Du Ký không để lời đạo lý biến thành giấy chứng nhận rằng người nói đã sống được đúng như lời ấy. Ngộ Không hiểu rất nhanh. Hắn có thể giảng cho thầy một câu sáng. Nhưng phần “tâm viên” trong hắn vẫn nhảy. Bị oan ở Bạch Hổ Lĩnh, được mời về cứu nạn, vừa chứng minh mình không thể thiếu, hắn tự nhiên muốn sư phụ nhìn rõ ai mới là người đáng tin nhất. Cái muốn ấy chưa hẳn xấu. Nó sinh từ một nỗi ấm ức có thật. Song khi lòng đã muốn chứng minh, trí khôn rất dễ trở thành công cụ để sắp đặt người khác.

Vì thế mới có mấy giọt nước mắt đầu bài. Ngộ Không không nói rằng mình muốn Bát Giới ra sức. Hắn làm ra vẻ đến chính mình cũng ngại đường phía trước, rồi dọa nên đổi ngày khác mới đi. Đường Tăng nghe vậy lập tức tái mặt. Sau nạn Khuê Mộc Lang, ông hiểu quá rõ một việc: thiếu Ngộ Không, đoàn thỉnh kinh thực sự có thể tan. Ông kéo lấy đồ đệ, nhắc rằng đường đi đã được một quãng dài, sao lại nói lời thoái lui.

Ngộ Không bèn than mình chỉ có một thân, dù là sắt cũng không rèn ra được bao nhiêu đinh. Đường Tăng hiểu ngay rằng đồ đệ muốn thêm người trợ lực, thế là giao Bát Giới và Sa Tăng cho hắn tùy việc sai khiến. Về danh phận, Đường Tăng vẫn là sư phụ. Trong việc hàng yêu, quyền điều động vừa được chính ông trao cho Ngộ Không. Cảnh này cho thấy quan hệ giữa hai người không đơn giản là một kẻ mạnh bị một kẻ yếu áp chế. Đường Tăng nắm danh nghĩa và lời chú. Ngộ Không nắm năng lực giải quyết tai họa. Mỗi bên có thứ bên kia cần.

Ngộ Không lập tức gọi Bát Giới đến, đưa ra hai việc để chọn. Một là ở lại trông sư phụ với hàng loạt điều kiện nặng nề, một là đi tuần sơn. Bát Giới nghe qua đã biết lựa chọn đầu gần như được bày ra để mình không thể nhận, nên đành cầm đinh ba lên đường. Hắn cũng hiểu Đại sư huynh đang nhắm vào mình. Oán cũ từ Bạch Cốt Tinh chưa hề nguội.

Đường Tăng nhìn thấy Ngộ Không cười phía sau Bát Giới thì nổi giận. Lời mắng của ông rất trực tiếp. Ông trách đồ đệ không có lòng thương anh em, thường ôm ý ghen ghét, lại dùng lời khéo để xúi Bát Giới đi tuần sơn rồi đứng đó cười. Nếu muốn biết vì sao Đường Tăng hay trách Ngộ Không nặng hơn người khác, đây là một đoạn không thể bỏ qua. Bởi ở khoảnh khắc này, ông không trách việc đi tuần sơn. Ông trách cái tâm sau việc ấy.

Vấn đề là ông đoán trúng một nửa. Ngộ Không đúng là muốn chỉnh Bát Giới. Nhưng hắn cũng đúng khi nói Bát Giới rất có thể sẽ lười biếng rồi trở về bịa chuyện. Đường Tăng nghe vậy vẫn bán tín bán nghi. Bản thân ông từng nhiều lần bị Bát Giới lười việc làm phiền, song khi phải chọn giữa phán đoán của Ngộ Không và hình ảnh ngờ nghệch của Bát Giới, ông vẫn nghiêng về việc bảo hộ Bát Giới hơn.

Lý do nằm ngay trong cách hai đồ đệ cư xử trước mặt ông. Bát Giới có thể lười, tham ăn, sợ khó, nhưng rất biết làm tròn hình thức của một người học trò. Khi trở về sau chuyến tuần sơn giả, hắn bước tới trước mặt Đường Tăng rồi quỳ xuống. Đường Tăng lập tức đỡ dậy, nói một câu rất mềm: “Đồ đệ, vất vả rồi.” Chỉ một động tác quỳ và một câu hỏi han đã dựng lại trật tự sư đồ mà Đường Tăng quen thuộc.

Ngộ Không thì khác. Hắn kính thầy thật, thậm chí sau khi bị đuổi vẫn nhớ thầy. Nhưng hắn thường đứng, cãi, vạch thẳng sai lầm, giận thì bỏ đi, đau vì lời chú thì trách, gặp yêu quái lại tự mình quyết trước rồi giải thích sau. Với người có khả năng nhìn yêu khí mà Đường Tăng không có, cách hành động ấy nhiều lúc là cần thiết. Với một vị sư phụ luôn phải giữ giới và giữ nề nếp, nó lại tạo ra cảm giác rất khó yên lòng.

Danh phận vì vậy trở thành một mắt xích quan trọng. Nho gia từng nói đến chính danh, bởi mỗi vị trí đều kéo theo trách nhiệm và cách ứng xử. Trong đoàn thỉnh kinh, Đường Tăng là sư phụ, Ngộ Không là đại đồ đệ. Danh phận này không có nghĩa thầy luôn đúng, cũng chẳng khiến đồ đệ mất quyền can gián. Nhưng khi người học trò quá mạnh, quá nhanh và thường xuyên vượt khỏi cách làm của người thầy, vị trí sư phụ liên tục bị thử thách. Đường Tăng càng không có pháp lực tự bảo vệ, ông càng phải dựa vào giới luật, lời thề, vòng kim cô và trật tự sư đồ để giữ con đường không trượt sang một cuộc chinh phạt do Ngộ Không tự quyết.

Nói đến giới hạn ấy không có nghĩa mọi lần Đường Tăng xử oan đều có thể bào chữa. Bạch Hổ Lĩnh vẫn là một sai lầm rất nặng của ông. Bạch Cốt Tinh ba lần biến hóa, Ngộ Không ba lần ra tay, đến cuối cùng yêu quái hiện nguyên hình, Đường Tăng từng có lúc tin lời đồ đệ. Nhưng Bát Giới đứng bên cạnh châm lời, Đường Tăng lại mềm tai, cuối cùng nhất quyết đuổi Ngộ Không. Khi ra đi, con khỉ còn dặn Sa Tăng phải trông chừng thầy và đề phòng lời gièm của Bát Giới. Đến lúc bay qua biển, nó nhớ Đường Tăng rồi rơi lệ. Tình cảm ấy là nguyên văn, chẳng cần tô thêm.

Thế nên Bình Đỉnh Sơn vừa là cuộc thử đối với Đường Tăng, vừa là cuộc thử đối với Ngộ Không. Người thầy đã từng nghe nhầm một lời gièm. Người đồ đệ vừa trở về lại tìm cách dựng một màn để chứng minh người từng gièm mình quả thật không đáng tin. Một bên chưa sửa hết thiên kiến cũ. Một bên chưa buông hết nhu cầu đòi lại công bằng cho mình. Nếu chỉ chọn một người làm thủ phạm, ta sẽ làm phẳng cái hay của hồi truyện.

Bát Giới đi khỏi chỗ thầy trò được bảy tám dặm thì bản tính lộ ra. Hắn quẳng đinh ba xuống, quay về phía sư phụ mà trách móc. Đại ý rằng cả đoàn đều đi lấy kinh để mong thành chính quả, vậy mà riêng lão Trư lại bị sai đi tìm yêu quái. Đã biết phía trước có yêu, lẽ ra phải tránh còn hơn. Nói xong, hắn tìm một bãi cỏ đỏ, duỗi người nằm ngủ, còn khoái chí vì được nhàn hơn Đại sư huynh.

Ngộ Không lúc ấy đã biến thành một con côn trùng bám theo. Thấy Bát Giới ngủ, hắn lại hóa chim gõ vào miệng cho tỉnh. Bát Giới đau quá tưởng yêu quái đánh lén, nhìn ra chỉ thấy chim thì lật đật đổi chỗ. Đi thêm một quãng, hắn gặp ba tảng đá vuông. Rồi xảy ra một trong những cảnh hài hước bậc nhất của hồi này: Bát Giới đứng trước đá, coi chúng như Đường Tăng, Ngộ Không và Sa Tăng để tập trước lời nói dối sẽ mang về.

Quyền uy của Đường Tăng và bản lĩnh của Ngộ Không

Hắn nghĩ nếu nói núi bằng đất, hang bằng bùn hay cửa bằng giấy thì người ta sẽ càng bảo mình ngốc. Thế là hắn chuẩn bị một bản khai nghe có vẻ cụ thể: núi đá, động đá, cửa bọc lá sắt, bên trong ba tầng, còn số đinh trên cửa thì cứ bảo lúc đó vội quá nên không nhớ. Cái buồn cười nằm ở chỗ Bát Giới hiểu rằng lời nói dối phải có chi tiết, nhưng lại không hiểu chi tiết giả càng nhiều càng dễ bị kiểm tra. Hắn chăm chút phần vỏ của sự thật mà chưa hề đi tới nơi có sự thật.

Các bản bình Tây Du về sau rất thích đoạn này. Tây Du Chứng Đạo Thư thời Thanh khen ngòi bút ở chuyện Bát Giới luyện nói dối là kỳ ảo và khó lường. Những nhà bình giải thiên về Đạo gia lại thường nhìn cả Bình Đỉnh Sơn bằng hệ thống biểu tượng ngũ hành, tâm viên, mộc mẫu, kim ngân. Đó là một truyền thống đọc có giá trị riêng, cho thấy người xưa không coi chuyện yêu quái chỉ là trò vui. Tuy vậy, những lớp giải nội đan ấy ra đời sau văn bản tiểu thuyết. Ta có thể dùng chúng để mở rộng cách nhìn, nhưng không nên biến mọi cái tên, mọi bảo bối, mọi hành động thành một mật mã duy nhất rồi nói đó chắc chắn là ý của người viết.

Chỉ cần trở về cảnh Bát Giới đối thoại với ba tảng đá, sức nặng đã đủ. Một người lười việc đang tập diễn sự cần cù. Một người sợ nguy hiểm đang chuẩn bị vẻ ngoài của kẻ đã làm tròn bổn phận. Và trớ trêu nhất, người này lại chính là kẻ Đường Tăng thường bênh hơn trong những cuộc cãi vã với Ngộ Không. Nếu người thầy chỉ nhìn lễ số trước mặt mà không xét việc phía sau, cái lễ ấy sẽ che được rất nhiều điều.

Ngộ Không bay về trước. Đường Tăng hỏi Bát Giới đâu, hắn cười nói đang ở ngoài kia bịa chuyện. Đường Tăng không tin. Ông còn bảo Bát Giới tai to che mắt, vốn là người ngu đục, sao biết bịa được lời gì, có khi lại do Ngộ Không dựng chuyện để vu cho sư đệ. Ngộ Không liền nói thẳng: sư phụ vẫn cứ bảo hộ người như thế. Câu này nối thẳng với vết thương ở Bạch Hổ Lĩnh. Con khỉ muốn một lần có chứng cứ đến mức thầy không thể quay đi.

Bát Giới trở về, quỳ lạy, được hỏi han, rồi bắt đầu phóng đại rằng yêu quái còn nhận hắn làm tổ tông, mời ăn uống, sắp bày cờ trống hộ tống thầy trò qua núi. Ngộ Không chỉ cần hỏi vài câu. Núi gì. Động gì. Cửa gì. Vào sâu bao nhiêu. Bát Giới lần lượt lôi đúng những câu đã tập trước đá ra nói. Đến khi Ngộ Không đọc nốt cả câu “đinh trên cửa bao nhiêu thì lão Trư vội quá nhớ không rõ”, Bát Giới biết mình hết đường chối, vội quỳ xin tha.

Đường Tăng lúc này buộc phải nhận rằng Ngộ Không nói đúng. Ông bảo Bát Giới quả thật đáng đánh, chỉ vì đường núi còn phải dùng người nên xin Đại đồ đệ tạm tha, qua núi rồi tính. Chi tiết này thường bị bỏ qua khi người ta nói Đường Tăng thiên vị tuyệt đối. Ông có thiên vị, nhưng ông vẫn nhận chứng cứ khi chứng cứ đã đủ rõ. Ông không bảo Bát Giới vô tội nữa. Điều đáng tiếc là Ngộ Không đã phải dùng cả một màn theo dõi, biến hóa, lật mặt mới khiến lời mình được chấp nhận.

Đó cũng là lý do khiến mối quan hệ này liên tục hao tổn. Khi lời nói thông thường không còn đủ sức tạo niềm tin, người ta bắt đầu tìm cách chứng minh nhau. Người nọ giăng phép thử. Người kia giấu việc. Kẻ thứ ba nói quá. Càng nhiều phép thử, lòng càng khó nhẹ. Trong một gia đình hay một nhóm người cùng làm việc, nhiều vết nứt cũng lớn lên theo cách ấy. Ban đầu chỉ là một lần không tin. Sau đó người bị nghi tìm cách bắt đối phương phải thấy mình đúng. Người từng nghi lại cảm thấy mình bị qua mặt. Chẳng bao lâu, mọi người đều bận giữ phần đúng của mình hơn là giữ con đường chung.

Nếu bạn đang theo dõi chuỗi đọc lại Tây Du Ký của Cổ Kim Thư Quán, có thể lưu chương này vào danh sách phát để tiện nối mạch từ Bạch Cốt Tinh, Bảo Tượng Quốc sang Bình Đỉnh Sơn. Ba chặng ấy đặt cạnh nhau sẽ thấy rõ quan hệ thầy trò thay đổi bằng từng va chạm nhỏ, chứ không bằng một lần tỉnh ngộ là xong.

Sau lần bị lộ chuyện nói dối, Bát Giới lại phải đi tuần sơn. Lần này hắn sợ Ngộ Không đến mức nhìn gì cũng ngờ. Một con hổ trong rừng, hắn nghĩ có thể là sư huynh biến hóa. Cây cối lay động, chim kêu, hơi gió cũng khiến hắn dè chừng. Người vừa nói dối bị bắt quả tang thường rơi vào cảnh ấy: ngoài kia chưa chắc có ai rình, nhưng trong lòng đã tự dựng người giám sát. Cái giá đầu tiên của gian dối nhiều khi chưa cần đến roi gậy. Nó là việc chính mình không còn đứng yên được trước những dấu hiệu bình thường.

Rồi Bát Giới gặp Ngân Giác Đại Vương thật và bị bắt. Đến đây, màn đùa giữa các sư huynh đệ đột ngột chạm vào hiểm họa. Ngộ Không muốn Bát Giới đi dò để vừa thử người vừa dò yêu. Bát Giới muốn tránh việc nên nói dối. Cuối cùng, yêu quái chẳng quan tâm đến hiềm khích của họ, chỉ cần một chỗ sơ hở là bắt người. Tây Du Ký thường có cách kéo nhân vật về thực tế như vậy. Nội bộ có thể hơn thua cả buổi, nhưng núi vẫn ở trước mặt, nạn vẫn đang tới.

Nhìn ngược lại, ta mới hiểu tại sao Đường Tăng vừa cần Ngộ Không vừa thường muốn ghìm Ngộ Không xuống. Từ phía Đường Tăng, sức mạnh của Đại đồ đệ là thứ cứu mạng. Nhưng một sức mạnh không chịu nằm hoàn toàn trong nề nếp cũng khiến người gánh trách nhiệm phải lo. Ngộ Không có thể nhận ra yêu tinh khi thầy không nhận ra. Hắn cũng có thể xuống tay trước khi thầy hiểu chuyện. Hắn có thể bay đi cầu viện, phá động, đánh trời, vào địa phủ. Một vị thầy không có phép thuật lấy gì để bảo đảm sức mạnh ấy chỉ chạy theo con đường thỉnh kinh chứ không chạy theo cơn giận của chính nó. Tây Du Ký trả lời bằng giới luật, tình thầy trò, lời hứa với Quan Âm và chiếc vòng trên đầu.

Vòng kim cô vì vậy không chỉ là dụng cụ hành hạ. Nó là một biểu tượng đầy đau đớn của việc sức mạnh được đặt dưới giới hạn. Song giới hạn chỉ có chính nghĩa khi người giữ giới hạn cũng tự sửa mình. Nếu Đường Tăng niệm chú vì sợ hãi, vì thành kiến hoặc vì nghe lời gièm mà không chịu xét, chiếc vòng từ phương tiện kềm tâm sẽ biến thành hình phạt bất công. Chính truyện đã cho người đọc thấy cả hai mặt, nên ta mới có thể thương Ngộ Không mà vẫn hiểu vì sao đoàn thỉnh kinh không thể để hắn muốn đánh ai thì đánh.

Điểm khó nhất là Đường Tăng nhiều lúc đánh đồng “khó kiểm soát” với “khó tin”. Đây là nơi ông đối xử với Ngộ Không khắc nghiệt hơn Bát Giới. Bát Giới kém bản lĩnh hơn, nhưng tính khí của hắn dễ đoán. Tham ăn thì tìm đồ ăn, sợ nạn thì tìm đường lùi, thấy thầy thì quỳ lạy, bị bắt quả tang thì xin tha. Ngộ Không lại có thể vừa cãi thầy hôm trước, hôm sau liều mạng cứu thầy; vừa chế nhạo sư đệ, lát sau lại quay về gánh đại nạn; vừa nói câu “chư pháp giai không”, ngay sau đó lại muốn “hiển bản sự, xuất danh”. Một con người như thế khó đặt vào khuôn, mà người sống bằng khuôn phép thường dè chừng điều khó đặt vào khuôn hơn điều yếu kém nhưng quen thuộc.

Đường Tăng cũng có một giới hạn rất thật: ông là người phàm trong phần lớn hành trình. Ông không có Hỏa Nhãn Kim Tinh. Khi Bạch Cốt Tinh hóa thiếu nữ, bà lão, ông lão, những gì ông thấy đều là người. Nếu Ngộ Không đánh xuống một gậy, ông thấy một người chết. Từ giới luật của một tăng nhân, phản ứng kinh hãi không hề vô lý. Sai lầm của ông nằm ở chỗ quá tin giác quan và quá ít dành chỗ cho điều mình chưa thấy được. Nhưng nếu chúng ta đứng ngoài truyện, biết sẵn ai là yêu quái rồi cười ông ngu, ta đang hưởng lợi từ con mắt của người kể chuyện mà quên mất nhân vật không có con mắt ấy.

Đây là chỗ chữ “thấy” trong Tây Du Ký rất đáng suy nghĩ. Đường Tăng thấy người nên sợ sát sinh. Ngộ Không thấy yêu nên phải ra tay. Bát Giới thấy lợi hại nên chọn cách né. Mỗi người đều nhìn một phần. Khổ nạn bắt họ trả giá vì phần họ không thấy. Người thầy phải học rằng từ bi thiếu trí xét có thể bảo hộ nhầm cái ác. Người đồ đệ phải học rằng nhìn đúng yêu khí chưa đủ, còn phải biết khiến người khác hiểu được điều mình thấy và chịu trách nhiệm về cách mình hành động.

Những lần nghi kỵ không chỉ là niệm chú

Nếu chỉ cần nhìn đúng yêu khí là đủ, Ngộ Không hẳn đã tránh được bao nhiêu lần xung đột với thầy. Tài của hắn đi trước khả năng dung hòa với người khác. Hắn thấy nhanh, đánh nhanh, nói nhanh. Đến Bình Đỉnh Sơn, sự nhanh ấy đã tiến thêm một bước thành mưu. Thay vì cãi, hắn cho Đường Tăng xem một cuộc trình diễn sống động về sự lười và nói dối của Bát Giới. Hắn thắng về chứng cứ. Nhưng trong lời mắng “thường ôm lòng ghen”, Đường Tăng vẫn chạm vào phần mà Ngộ Không chưa tự giải được: vì sao mình nhất định phải khiến thầy thấy sư đệ xấu đến đâu.

Chính điểm ấy khiến chữ “hành hạ” trong tên gọi của câu chuyện cần được dùng thận trọng. Đường Tăng có làm Ngộ Không đau, cả thân lẫn lòng. Ông từng niệm chú, đuổi đi, nghi oan, trách nặng. Nhưng Ngộ Không cũng liên tục làm vị thầy của mình sợ, khó xử và mất cảm giác rằng lời của sư phụ còn có trọng lượng. Họ không đứng ở hai phía thiện ác. Họ là hai người phải đi chung trong khi phẩm tính của mỗi người đều chạm đúng vào chỗ yếu của người kia.

Ngộ Không mạnh đến mức dễ kiêu. Đường Tăng yếu về pháp lực nên càng dựa vào danh phận và giới luật. Ngộ Không coi trọng cái thực: yêu hay người, có bản lĩnh hay không, có làm được việc hay không. Đường Tăng coi trọng cái danh theo nghĩa rộng hơn: thầy phải ra thầy, trò phải ra trò, tăng nhân phải giữ giới, hành trình phải hợp đạo. Khi danh và thực hòa nhau, đoàn đi rất vững. Khi danh chỉ còn vỏ hoặc thực chỉ còn sức mạnh chưa chịu điều phục, xung đột bùng lên.

Trang Tử trong thiên Tiêu Dao Du có câu của Hứa Do: “danh giả, thực chi tân”, có thể hiểu danh là khách của thực. Câu này đôi lúc bị gán nhầm cho Lão Tử. Đem nó soi vào đây khá thú vị, miễn là không kéo quá xa. Bát Giới có dáng vẻ đồ đệ ngoan trước mặt thầy nhưng việc làm phía sau lại thiếu thực. Ngộ Không có thực lực cứu nạn nhưng nhiều lúc coi nhẹ lễ số, khiến danh phận sư đồ bị xô lệch. Đường Tăng giữ danh nghĩa người thầy, song nếu lời phán đoán không dựa được vào sự thực thì chính danh nghĩa ấy cũng trở nên mong manh. Hồi truyện như ép cả ba người phải đưa danh và thực trở lại gần nhau.

Một câu khác thường được dùng để bình đoạn Đường Tăng hỏi bao giờ được nhàn là “tâm cảnh nhiều dục thì bận, ít dục thì nhàn”. Câu ấy nằm trong Cách Ngôn Liên Bích đời Thanh, ra sau thời đại của bản Tây Du Ký trăm hồi. Vì vậy nó thích hợp làm lời bình của người đến sau, chứ không nên đưa ngược vào miệng tác giả. Nhưng ý của nó vẫn có ích. Tâm càng đòi nhiều thứ cùng lúc, càng khó thảnh thơi. Đường Tăng vừa muốn tới đích, vừa sợ hiểm trở, vừa phải giữ giới, vừa phải giữ đoàn. Ngộ Không vừa muốn hộ thầy, vừa muốn được tin, vừa muốn chứng minh bản lĩnh, vừa muốn chỉnh Bát Giới. Bát Giới vừa muốn chính quả, vừa muốn nhẹ việc. Ai cũng mang theo phần cầu riêng của mình lên núi.

Vậy thử trở lại câu “bao giờ thân này mới nhàn”. Ngộ Không trả lời rất đẹp rằng công thành rồi, muôn duyên dứt, các pháp đều không, tự nhiên sẽ nhàn. Nhưng nếu đọc cả hồi, ta thấy câu trả lời ấy còn quay ngược vào chính hắn. Ngộ Không chưa nhàn vì vẫn vướng chuyện thầy từng nghi oan. Chỉ cần thấy Bát Giới được bênh, vết cũ lại đau. Hắn bày mưu, theo dõi, vạch trần, đòi đánh. Một người có thể thoát khỏi núi đá, thoát khỏi yêu ma, thậm chí bay một vòng vạn dặm trong chớp mắt, nhưng muốn thoát khỏi một niệm “ta phải khiến người kia biết ta đúng” lại không dễ.

Đường Tăng cũng vậy. Ông mong thân nhàn, nhưng tâm còn luôn căng trước điều bất trắc. Ngọn núi chưa có yêu xuất hiện, ông đã sợ hổ lang. Sau Bạch Cốt Tinh, ông từng trả giá nặng vì không tin Ngộ Không, đến Bảo Tượng Quốc còn phải nhờ chính người bị đuổi quay về cứu. Dẫu vậy, ở Bình Đỉnh Sơn ông vẫn chưa thể trao cho đồ đệ niềm tin trọn vẹn. Kinh nghiệm có thể sửa một phán đoán, nhưng thói quen trong lòng thay đổi chậm hơn.

Điều này khiến Đường Tăng gần con người đời thường hơn nhiều. Có cha mẹ biết con mình đã trưởng thành mà vẫn hỏi dồn như ngày nó còn nhỏ. Có người chủ biết một cộng sự giỏi hơn mình ở một việc nhưng vẫn khó chịu khi người ấy tự quyết. Có người từng nhận ra mình đánh giá sai một người, đã xin lỗi, đã làm hòa, rồi tới lần sau vẫn vô thức quay về lối phán đoán cũ. Kiến thức về sai lầm đi vào đầu rất nhanh. Khí chất và thói quen phải qua nhiều lần va chạm mới chịu đổi.

Ngộ Không về sau cũng phải học điều tương tự. Sức mạnh của hắn không giảm đi trên đường lấy kinh, nhưng cách dùng sức dần đổi. Ban đầu hắn quen giải quyết bằng một gậy. Càng đi xa, hắn càng biết hỏi thổ địa, tra lai lịch, lên trời tìm nguồn, mượn bảo bối, cầu Bồ Tát, phân biệt lúc nên đánh, lúc nên nhờ. Người thật sự trưởng thành không nhất thiết bớt mạnh. Họ biết đặt sức mạnh đúng chỗ và để người khác có thể cùng đi với sức mạnh ấy.

Đường Tăng cũng không cần biến thành Ngộ Không để trưởng thành. Ông vẫn là người giữ lời nguyện, giữ hướng Tây Thiên, giữ một ranh giới mà các đồ đệ nhiều lúc muốn vượt. Giá trị của ông nằm ở sự bền bỉ ấy. Nhưng bền bỉ khác với cố chấp. Hành trình buộc ông học cách nghe người có mắt nhìn khác mình. Nếu không có Đường Tăng, Ngộ Không dễ trở lại một Tề Thiên Đại Thánh lấy bản thân làm chuẩn. Nếu không có Ngộ Không, Đường Tăng có thể giữ giới rất đẹp nhưng chết ở một hang yêu trước khi kinh được thỉnh về. Hai người cứu nhau bằng đúng thứ người kia thiếu.

Vì vậy, câu hỏi “tại sao Đường Tăng luôn hành hạ Ngộ Không” cuối cùng không nên chỉ dẫn tới một bản án cho Đường Tăng. Nó mở ra một bài toán về quan hệ giữa danh phận và năng lực, giữa giới hạn và tự do, giữa niềm tin và bằng chứng. Đường Tăng nghiêm với Ngộ Không vì sợ sức mạnh đi ra ngoài giới. Ông còn nghiêm vì Ngộ Không thường chạm vào uy tín người thầy. Ông thiên vị Bát Giới vì Bát Giới cho ông cảm giác trật tự dễ nhận biết hơn. Và ông cũng nhiều lần sai vì lấy cảm giác ấy thay cho việc xét sự thật đến cùng.

Còn Ngộ Không chịu khổ không chỉ do gặp một người thầy hồ đồ. Hắn chịu khổ vì con đường thành Phật của hắn nằm đúng ở chỗ khó chịu nhất: một kẻ có bản lĩnh phi thường phải học chịu sự ràng buộc, học giải thích, học nhẫn một phần oan, học rằng đúng chưa đủ nếu cái đúng được mang ra bằng tâm hiếu thắng. Điều này không biến mọi oan ức thành cần thiết. Nó chỉ cho thấy tiểu thuyết đã đặt nhân vật vào một quan hệ mà mỗi va chạm đều ép lộ phần chưa tu xong.

Một mối quan hệ vừa cần nhau vừa làm đau nhau

Ngay cả Bát Giới cũng không chỉ là người gây chuyện. Cảnh hắn nói dối rất đáng cười, nhưng chính hắn là tấm gương khiến cả thầy lẫn Đại sư huynh lộ tâm. Đường Tăng lộ sự bảo hộ. Ngộ Không lộ ý muốn chứng minh. Bát Giới lộ thói tránh việc. Chỉ một chuyến tuần sơn mà ba người đều bị soi. Yêu quái còn chưa ra tay, nạn đã bắt đầu từ bên trong đoàn.

Đó là lý do tên hồi có chữ “tâm viên” ở các chương kế tiếp luôn khiến người đọc cổ chú ý. Những nhà bình giải Đạo gia đời Thanh xem hành trình này như một cuộc luyện tâm rất sâu, có khi giải từng nhân vật theo ngũ hành và nội đan. Ta không cần nhận toàn bộ hệ thống ấy mới thấy được ý vị. Con khỉ vốn là hình ảnh của một cái tâm nhảy động. Tâm ấy có thể sáng, có thể nhanh, có thể phá mê, nhưng cũng có thể vừa nghe một lời trái ý đã lao đi tìm thắng thua. Một cây gậy quét sạch yêu quái chưa chắc quét sạch được sự hơn thua trong lòng người cầm gậy.

Và Đường Tăng, người thường được đặt ở phía tĩnh, cũng chẳng hề tĩnh sẵn. Ông sợ núi, lo hổ lang, dễ khóc khi nghe tin dữ, dễ mềm lòng trước dáng vẻ đáng thương, dễ nổi giận khi thấy giới luật bị xâm phạm. Lời Bát Nhã Tâm Kinh ở đầu hồi vì thế mang sức nặng lớn hơn một vật trang trí. “Tâm vô quái ngại” được nhắc lên đúng lúc mọi người còn đầy quái ngại. Kẻ thuộc kinh chưa chắc đã sống được kinh. Đường đi về sau chính là quãng mà những chữ đã thuộc phải đi qua máu, mồ hôi, oan ức và lựa chọn mới thành phần của con người.

Cũng nên nhớ Đường Tăng trong Tây Du Ký là nhân vật văn học, không thể đem mọi hành vi của ông gán thẳng cho Huyền Trang pháp sư trong lịch sử. Tiểu thuyết đã kế thừa nhiều lớp truyện thỉnh kinh, truyền thuyết dân gian, sân khấu và tưởng tượng thần ma để tạo ra một vị Đường Tăng có chỗ cao quý, có chỗ yếu đuối, có lúc đáng kính, có lúc khiến người đọc bực mình. Chính khoảng cách ấy cho phép tác phẩm kể chuyện tu hành bằng con người chưa hoàn thiện, thay vì chỉ kể tiểu sử một cao tăng đã được hậu thế tôn kính.

Nếu ta xóa hết nhược điểm của Đường Tăng để bảo vệ hình tượng thánh tăng, Tây Du Ký sẽ mất một nửa sức sống. Nếu ta chỉ gom mọi sai lầm của ông để kết luận ông vô dụng, tác phẩm cũng mất nửa còn lại. Người giữ phương hướng của đoàn chính là ông. Qua bao nhiêu lần bắt cóc, uy hiếp, dụ dỗ, chưa khi nào ông chủ động bỏ Tây Thiên để quay về hưởng an nhàn. Câu “bao giờ thân này mới nhàn” là tiếng thở của người đang đi, chưa hề là lời đầu hàng.

Ngộ Không cũng thế. Nếu chỉ tôn hắn thành anh hùng luôn đúng, ta sẽ không giải thích nổi vì sao người viết lại cho hắn giả khóc, tính chuyện nổi danh, cố ý chỉnh Bát Giới và bật cười sau lưng sư đệ. Những nét ấy không làm hắn nhỏ đi. Chúng khiến sự trưởng thành về sau có chỗ để diễn ra. Một nhân vật chỉ toàn ưu điểm không thể tu được gì, vì trước khi lên đường đã không còn chỗ nào cần sửa.

Đến đây, câu trả lời có lẽ đã hiện ra rõ hơn. Đường Tăng đối xử khắt khe với Tôn Ngộ Không vì giữa họ tồn tại một nghịch thế rất khó hóa giải: người làm thầy nắm giới luật và danh phận nhưng thiếu sức tự vệ, người làm trò có sức phá núi dời non nhưng chưa hoàn toàn chịu phục tâm. Đường Tăng sợ mất đường chính. Ngộ Không sợ công lao và lòng trung của mình bị phủ nhận. Bát Giới ở giữa, có khi vô tình, có khi cố ý, làm hai nỗi sợ ấy va vào nhau.

Cách chữa của họ không đến trong một buổi. Nó đến bằng từng nạn. Đường Tăng phải nhiều lần được Ngộ Không cứu để học rằng hình tướng chưa đủ cho phán đoán. Còn Ngộ Không thì qua nhiều lần chịu giới hạn mới học rằng bản lĩnh chưa đủ cho chính quả. Bát Giới phải nhiều lần bị lộ thói lười để hiểu rằng lễ số không thay được việc thật. Sa Tăng, Bạch Long Mã và những người còn lại cũng có phần học riêng. Bởi thế, tám mươi mốt nạn không chỉ nằm ở yêu động. Rất nhiều nạn bắt đầu từ một niệm trong lòng người trước khi yêu quái bước ra.

Hãy nhớ lại mấy giọt nước mắt giả ở đầu câu chuyện. Ngộ Không dùng chúng để khiến sư phụ trao quyền. Nhưng phía sau cái giả ấy lại có một nỗi thật: hắn muốn được tin. Đường Tăng nắm lấy váy da hổ vì sợ đồ đệ bỏ đi. Phía sau nỗi sợ ấy cũng có một điều thật: ông biết mình cần Ngộ Không. Cả hai đều không nói thẳng phần thật nhất của mình. Một người diễn yếu để được trao quyền, một người dùng danh phận để giữ người mạnh ở lại. Thành ra họ cứ va nhau bằng những hình thức vòng quanh điều cốt lõi.

Nếu có một điều đáng mang từ Bình Đỉnh Sơn về đời sống hôm nay, có lẽ là thế này. Trong một quan hệ lâu dài, người làm được nhiều nhất chưa chắc là người dễ sống cùng nhất. Người giữ nề nếp nhất cũng chưa chắc nhìn đúng mọi việc. Khi hai phía chỉ chăm chứng minh phần của mình, tài năng sẽ thành mũi nhọn, quy tắc sẽ thành sợi dây, còn thiên vị sẽ làm những vết thương cũ sống lại. Muốn đi xa, người mạnh cần học cách khiến sức mạnh của mình đáng tin, người giữ quyền cần học cách để sự thật sửa phán đoán của mình.

Câu “mấy giờ thân này mới được nhàn” vì thế nghe lại ở cuối hồi đã khác. Thân nhàn không chỉ là tới Tây Thiên, nhận kinh rồi về Trường An. Với Đường Tăng, còn phải bớt nỗi sợ khiến mình phán quá nhanh. Với Ngộ Không, còn phải bớt cái gút muốn người khác lập tức nhìn nhận mình. Với Bát Giới, còn phải bớt thói tìm đường nhẹ việc. Núi Bình Đỉnh ở ngoài đường rồi sẽ qua. Cái núi trong lòng mỗi người mới cần đi qua nhiều lần.

Thời lượng của chương trình hôm nay tại Cổ Kim Thư Quán cũng xin khép lại ở hình ảnh ấy: một vị sư phụ đang nắm lấy váy da hổ của đồ đệ, còn con khỉ mạnh nhất đoàn lại dùng mấy giọt nước mắt giả để nói hộ một nhu cầu rất thật. Theo bạn, trong mối quan hệ này, điều khiến hai thầy trò khổ nhất là sự thiên vị của Đường Tăng, cái ngạo của Ngộ Không, hay việc cả hai quá ít nói thẳng điều mình thật sự sợ mất? Bạn có thể để lại bình luận về lựa chọn của mình. Nếu thấy chương này đáng suy ngẫm, bạn có thể chia sẻ cho người cùng yêu Tây Du Ký và theo dõi kênh để chúng ta tiếp tục đọc chậm từng hồi. Hẹn gặp lại trong chương tiếp theo, khi Bình Đỉnh Sơn thật sự mở cửa và những bảo bối của Kim Giác, Ngân Giác bắt đầu thử xem Tề Thiên Đại Thánh đã điều phục được bao nhiêu phần của chính mình.